Bardo

Trung ấm cận tử

Giờ đây khi Trung Ấm Cận Tử đang ló dạng trong con,

Con sẽ từ bỏ mọi bám chấp, mong mỏi và luyến ái,

Nhất tâm tỉnh giác nhớ về giáo huấn,

Và phóng tâm thức của mình vào trong cảnh giới tâm vô sinh;

Khi rời bỏ tấm thân giả hợp gồm thịt và máu này,

Con sẽ hiểu rằng thân đó là một huyễn hoá phù du.

Trung Ấm Cận Tử có liên quan đến một câu kệ trong Ba Mươi Bảy Pháp Tu Của Bồ Tát, đoạn kệ nói về vô thường: “Thân bằng quyến thuộc lâu năm rồi sẽ phải rời xa. Tài sản và của cại tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt rồi sẽ phải bỏ lại. Tâm thức chỉ là khách trọ trong ngôn nhà thân xác rồi sẽ phải ra đi. Đừng bám luyến vào cuộc đời này, đó là Pháp Tu Của Bồ Tát.”

Trung Ấm Cận Tử bắt đầu với những dấu hiệu của cái chết và thậm chí là dấu hiệu lão hoá – bạc tóc rụng răng, khớp chân đau, đầu cảm thấy nặng nề, mắt kém, các bộ phận cơ thể hoạt động kém đi. Tức là cơ thể kiệt quệ dần và đến thời điểm phải ra đi. Đó là những dấu hiện cảnh báo rằng đến lúc ta phải ra đi. Những dấu hiệu cận tử này thực chất chính là tâm thức mách bảo chúng ta hãy sẵn sàng để ra đi. Vì vậy vào lúc đó thì tốt hơn là đừng lãng phí nhiều thời gian để ca thán phàn nàn mà nên chuẩn bị sẵn sàng để sớm ra đi. Nhiều người tích luỹ rất nhiều tài sản lúc đang sống với suy nghĩ rằng đến lúc nào đó họ sẽ sử dụng những tài sản này. Nhưng thực tế là cuối cùng họ chết đi và không thể mang bất cứ thứ gì theo được. Nói chung việc có tài sản của cải thì không có gì sai trái nhưng chúng ta không nên quá bám luyến vào chúng. Vì thế việc chúng ta hiến tặng tài sản của bản thân mình khi đang sống là một thực hành tốt. Trong tâm mình con nên trao chúng đi và vì vậy từ bỏ mọi bám luyến vào tài sản. Con có thể nghĩ rằng sau này khi con chết đi thì mọi sở hữu của con như tiền bạc, nhà cửa v.v. sẽ mang lại lợi ích, chẳng hạn lợi ích cho đất nước hay cho người khác. Nếu con có một tượng Phật, thăng-ka, hay trang Phật ở bàn thờ thì con có thể nghĩ rằng “Mọi thứ con sở hữu kể cả thân thể và gia đình con là thuộc về các Ngài.” Nếu con thực hành như vậy thì khi chết, con sẽ ra đi tự do khỏi mọi bám luyến. Khi đó cho dù con có hàng triệu đô la và trao tặng nó đi vì lợi ích của mọi chúng sinh khác hay vì lợi ích của đất nước mình thì việc con sở hữu số tiền đó thật sự không có tác hại gì cả. Nó chỉ tác hại khi con trở thành một với tài sản, của cải hay chồng vợ, con cái của con; hoặc tâm con chiếm hữu và đồng nhất mình với những thứ đó, coi chúng vô cùng quan trọng và quý báu đến nỗi con không thể rời xa. Khi đó tâm con không thể rời xa người thân hay những vật sở hữu và điều đó thì vô cùng tác hại. Việc yêu thương hay trân trọng người thân hay của cải tài sản thì không sao, nhưng việc bám luyến chấp trước vào đó thì vô cùng tai hại. Bởi vì nếu chúng ta bám chấp quá nhiều thì sau này trong giai đoạn trung ấm, thần thức sẽ tiếp tục bám chấp vào bản ngã, vì vậy phải chịu rất nhiều đau đớn và khổ não. Ví dụ khi có một thành viên trong gia đình mất, đôi lúc người thân nằm mơ thấy người quá cố, hay người quá cố xuất hiện trong linh ảnh đối với người thân. Họ có thể mơ rằng điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra v.v. Những giấc mơ và những hiện tượng xuất hiện đó là do sự bám chấp của chính chúng ta và nền tảng chính là chấp ngã. Đây là một điểm trọng yếu cần phải hiểu vì nó sẽ giúp chúng ta cắt bỏ được sự bám chấp.

Dòng thứ hai của câu kệ thứ tư có nói rằng “Con sẽ từ bỏ mọi bám chấp, khát khao và luyến ái.” Đầu tiên chúng ta chấp trước, sau đó chúng ta bám víu và rồi chúng ta không thể từ bỏ. Chúng ta chắc chắn cần phải từ bỏ sự bám luyến chấp thủ.

Khi chúng ta bám chấp, chúng ta vẫn có thể tỉnh giác. Ví dụ khi con nhìn thấy một đối tượng đẹp thì đồng thời lúc đó con cần có chánh niệm. Sự chánh niệm có khả năng nhận biết: con biết được rằng con đã trở nên bám luyến và đang chấp thủ. Với sự tỉnh giác có khả năng nhận biết này, con cần cắt bỏ sự bám chấp. Nếu làm được như vậy thì tâm sẽ không thể bám chấp. Vậy bám luyến chấp thủ là gì? Ví dụ khi có một ngôi nhà đẹp, con luôn luôn nghĩ về nó. Con không chỉ nghĩ rằng mình đang có ngôi nhà mà còn tiếp tục nghĩ về “ngôi nhà của tôi”. Khi sự bám chấp này duy trì trong tâm thì con có thể bị đầu thai trở lại dưới dạng động vật, ví dụ trở thành một con rùa mang trên lưng ngôi nhà của nó bởi vì con không thể từ bỏ ngôi nhà. Đó là sự vận hành tinh tế của nhân quả nghiệp báo. Đức Jigten Sumgon đã nói rằng “Nghiệp trổ quả là sự phản chiếu nhất thời của những suy nghĩ bên trong chúng ta.” Những thân tướng đủ loại của chúng sinh chính là sản phẩm của biệt nghiệp đã tạo. Con nên suy đi ngẫm lại về điều này. Hoặc giả dụ con có một đứa con và con rất bám luyến vào đứa con của mình. Chính do sự bám luyến này mà con cứ liên tục nghĩ về nó. Nếu không thể ngừng việc suy nghĩ về con của mình thì con đã bị rơi vào sự bám luyến chấp thủ – một hình thức bám luyến chấp thủ rất mạnh. Sự bám luyến chấp thủ này thực ra làm hại đứa bé mặc dù tất nhiên con không muốn làm hại con của chính mình. Ai có thể bảo vệ chúng ta khỏi những điều như vậy? Chính là đức Quan Âm (Tara), Tam Bảo và đức Phật. Nếu nương tựa vào chư Phật thì con có thể thật sự giúp đỡ được đứa con của mình. Nhưng nếu con cố chiếm hữu đứa bé thì khi đó con sẽ bám víu vào nó. Càng bám víu thì con càng thắt chặt sợi dây ràng buộc quanh đứa con của mình và khi đó con trở nên cứng nhắc như tảng băng. Thậm chí ngay cả khi cha mẹ yêu thương con cái nhưng đôi khi sự yêu thương quá mức đến nỗi con của họ trở thành giống như tù nhân. Điều này sẽ làm đứa trẻ cảm thấy ngột ngạt và sẽ bắt đầu coi cha mẹ như kẻ thù. Lỗi lầm này chính là bám luyến chấp thủ và nó làm cho người khác cảm thấy không hạnh phúc, họ cảm như bị cầm tù. Về căn bản thì đó là lỗi lầm của chấp ngã và sau khi chúng ta chết thì những nghiệp báo tiêu cực sẽ trổ quả. Vì vậy chúng ta phải rất cẩn thận và chắc chắn cần phải dừng việc bám luyến chấp thủ vào người khác. Phương pháp gì giúp làm được điều này? Đó chính là chánh niệm: đó là một sự tỉnh giác sắc bén nhận ra mọi ý niệm và cắt đứt mọi bám luyến chấp thủ. Đây là một điểm vô cùng quan trọng mà con chắc chắn cần lưu giữ trong tâm.

Nói về những tác động tai hại của bám luyến chấp thủ thì có rất nhiều ví dụ trong kinh điển như Kinh Hiền Ngu và những câu chuyện tiền kiếp của đức Phật. Kinh kể một câu chuyện cổ xưa về một cô gái bám luyến vào thân thể đẹp đẽ của mình. Sau khi chết, thân xác cô được chôn dưới đất và cô thì đầu thai thành một con rắn. Đó chính là sự trổ quả của nghiệp bám luyến chấp thủ của cô. Vào khoảnh khắc con nghĩ về đối tượng mà con bám luyến thì khi đó con hoà mình vào đối tượng đó và không có khả năng tách rời khỏi nó. Điều này gây ra bệnh tật, đau khổ, khó chịu cho con và người khác, vì vậy con và người đó sẽ không được giải thoát. Ví dụ hãy tưởng tượng có hai người yêu nhau. Đầu tiên có vẻ như đó là một tình yêu mãnh liệt, nhưng sau đó tình yêu biến thành sự chiếm hữu, rồi ghen tuông diễn ra. Cuối cùng họ thậm chí có thể coi nhau như kẻ thù và rốt cuộc có thể chia tay. Đó chính là lỗi lầm của bám luyến chấp thủ. Khi con bám luyến thì ghen tuông và các cảm xúc ô nhiễm khác sẽ gia tăng. Ví dụ theo giáo lý đạo Phật chúng ta đọc “Bài nguyện tái sinh cõi Tịnh Độ Cực Lạc” và khi đó chúng ta suy ngẫm về những lợi ích của các cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Khi sinh ở cõi Cực Lạc, con đạt được địa Bồ Tát thứ nhất và trở thành một vị Bồ Tát. Con đi đến Cõi Tịnh Độ Cực Lạc không phải vì bám víu vào đích đến đó mà vì con quan tâm và muốn giúp đỡ các chúng sinh khác.

Khi nghĩ về cái chết thì con nên nghĩ rằng “giả sử mình chết đêm nay thì tâm thức mình sẽ đi đâu?” Nếu con chết đêm nay, con sẽ đi theo nghiệp lực của mình. Hãy nhìn vào tâm mình và quan sát xem có bao nhiêu tư tưởng và cảm nhận về tình yêu thương và lòng bi mẫn khởi sinh, có bao nhiêu tư tưởng ô nhiễm và tán loạn khởi sinh. Phần lớn các tư tưởng của chúng ta là ô nhiễm và tán loạn. Thậm chí đôi khi xuất hiện một tư tưởng thiện lành – tư tưởng sinh khởi Bồ Đề Tâm – thì ngay sau đó một tư tưởng khác lại xuất hiện và làm nảy sinh những cảm xúc bất thiện. Rồi lại một tư tưởng bất thiện khác theo v.v. Giờ đây khi chúng ta chưa chết, chúng ta vẫn có thể thay đổi được tư tưởng của mình nếu nỗ lực. Sau khi chết thì chúng ta không thể làm điều đó được nữa.

Tư tưởng là nhất thời. Khi tâm thức rời bỏ thân xác thì tư tưởng hay ý niệm vào khoảnh khắc đó sẽ có tính chủ đạo quyết định đích đến tiếp theo của con. Giả sử con có một bình nước và sau đó bình bị bể thì trừ phi ở dưới nó có một cái chậu để hứng nước, còn nếu không thì nước sẽ bị chảy ra sàn và sẽ thấm vào sàn. Tương tự như vậy, khi thần thức rời thân xác, nó có thể dễ dàng rơi xuống các cõi thấp. Giây phút chết là giây phút vô cùng quan trọng và niệm khởi chủ đạo vào giây phút đó có tính hệ quả cao. Vì vậy chúng ta cần có chỉ dẫn, giống như là cần một con tàu giúp con nổi lên trong khoảnh khắc bị chìm. Sẽ là lý tưởng nếu con có một vị Đạo sư gốc mà con hoàn toàn tin tưởng và sùng mộ không chút dao động, và  vị Đạo Sư cũng yêu thương con. Nếu như vậy thì con nên nghĩ về vị Đạo Sư gốc vào giây phút đó và chỉ như vậy cũng là đủ. Hoặc nếu con có một vị Bổn Tôn thì con có thể nghĩ về Ngài vào giây phút đó. Nếu bây giờ tâm con trở nên quen thuộc với hình ảnh của vị Đạo Sư hay Bổn Tôn thì thậm chí giả dụ nếu con bị chết bất ngờ, ví dụ con bị tai nạn ô tô chẳng hạn, thì ngay lập tức con sẽ nhớ đền Đạo Sư hay Bổn Tôn và vì vậy con sẽ được an toàn. Và sau đó khi trong giai đoạn trung ấm con cũng có thể nhớ được Đạo Sư hay Bổn Tôn, bởi vì niệm khởi chủ đạo vào thời điểm chết là về Đạo Sư hay Bổn Tôn sẽ dẫn dắt con tiếp tục hành trình trong thân trung ấm. Để làm được điều này con cần phải tu tập ngay khi còn sống.

Nếu con có Bồ Đề Tâm vào lúc chết thì thần thức sẽ đi theo thiên hướng của Bồ Đề Tâm. Nếu sự chấp ngã nổi trội thì con sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc ra đi trong trạng thái tâm tiêu cực. Và lúc đó thần thức sẽ rời cơ thể thông qua cửa ngõ bất tịnh. Con nên suy ngẫm về điều này. Khoảnh khắc thiện hạnh, khoảnh khắc của Bồ Đề Tâm có thể làm cho con thành Phật. Khoảnh khắc của niệm khởi bất thiện có thể làm cho con rơi xuống ba cõi thấp. Chính vì thế điều cốt yếu là con cần thuần thục những chỉ dẫn này mà không được chậm trễ.

Dòng thứ ba của câu kệ thứ tư dạy chúng ta rằng “Nhất tâm tỉnh giác nhớ về giáo huấn và phóng tâm thức của mình vào trong cảnh giới tâm vô sinh.” Có những chỉ dẫn về Pháp chuyển di tâm thức còn gọi là Phowa. Dạng Phowa đầu tiên là chuyển di tâm thức Pháp thân. Với phương pháp này thần thức an trụ không dao động trong tánh giác sáng tỏ. Thứ hai là chuyển di tâm thức Báo thân. Đó chính là quán tưởng Bổn Tôn giống như thực hành giai đoạn sinh khởi. Thứ ba là chuyển di tâm thức Hoá thân, đó là trưởng dưỡng tình yêu thương và lòng bi mẫn.

Về việc chuyển di tâm thức Pháp thân, khi con an trụ không tách rời với giác tánh sáng tỏ tự thấu suốt thì đó chính là sự giác ngộ tri kiến Đại Thủ Ấn. Đó chính là nhận ra chân tâm và nghỉ ngơi trong chân tâm bản nhiên. Khi những suy nghĩ quá khứ đã qua và những suy nghĩ tương lai chưa đến thì có một khoảng không giữa các suy nghĩ; khoảng không đó chính là hợp nhất của giác tánh sáng tỏ và tánh Không, an trụ như hư không. Ở đó tất cả mọi bám chấp đều sụp đổ một cách tự nhiên và con có thể nhận ra chân tâm là vô sinh.

Chân tâm nguyên sơ thì vượt thoát sự sinh, diệt và luôn luôn an trụ. Chân tâm ấy siêu vượt trí tuệ thế gian và vì vậy không thể nhận biết thông qua loại phương tiện trí tuệ đó. Chân tâm không phải là đối tượng của sự khảo cứu dùng trí óc. Nếu con cố để khám phá chân tâm với trí tuệ thông thường thì con sẽ bị rối rắm. Nếu con thực sự trực ngộ được bản tâm thì con cần áp dụng phương pháp để an trụ trong bản tâm đó. Khi con an trụ được trong bản tâm này thì tất cả những nghi ngờ sẽ tự biến mất thông qua năng lực của sự tỉnh giác. Vì vậy khởi đầu thì tâm là vô sinh. Chúng ta không thể xác quyết được tâm đến từ đâu, điều này cũng giống như hỏi rằng hư không đến từ đâu. Chẳng ai có thể trả lời được câu hỏi này, vì không ai biết được hư không đến từ đâu. Đến đoạn giữa thì tâm hoá hiện không ngừng nghỉ: tâm không đi về đâu nhưng cũng không ngừng hiện hữu. Tâm hoá hiện không ngừng nghỉ vì vạn pháp trong cả luân hồi lẫn niết bàn đều tiếp tục xuất hiện giống như cầu vồng trên bầu trời. Tâm thì vĩnh hằng, nó không bao giờ ngừng hiện hữu. Tâm cũng không trụ tại bất kỳ đâu. Con không thể xác định vị trí của tâm và xác định được nơi tâm đang lưu trú. Vậy tâm ở đâu? Không thể tìm thấy một hiện tượng nào gọi là tâm.  Một số nhà khoa học tin rằng tâm nằm trong bộ não, một số khác cho rằng tâm nằm trong tim, nhưng thực chất thì không thể định vị được tâm. Tâm trùm khắp giống như hư không.

Giáo huấn về chuyển di tâm thức được đề cập trong dòng thứ tư của câu kệ thứ tư này “Và phóng tâm thức của mình vào trong cảnh giới tâm vô sinh” Hư không bên ngoài và tâm bên trong đều trùm khắp và vì vậy là bất nhị. Chỉ do chấp ngã, nghiệp và tập khí mà tâm tạm thời trở nên giống như tảng băng. Nhưng bản chất chân thực của tâm là tràn khắp, tâm không sinh không trụ và không đoạn diệt. Khi con thấy được đúng bản chất của tâm như nó là và xác quyết được rằng đó chính là bản tánh thực sự của tâm thì sẽ chẳng còn gì cần phải làm thêm nữa. Đức Jigten Sumgon đã nói rằng “Cuộc đời này, thân trung ấm và các đời vị lai – tất cả chỉ là một.” Sự hiểu biết này đã xoá đi nhiều nghi ngờ trong chính bản thân Thầy vì chúng ta thường có xu hướng tin rằng cuộc đời này là chân thực và ngoài cuộc đời này ra thì chẳng có điều gì là chân thực cả. Chúng ta nghĩ rằng cuộc đời vị lai không quan trọng đối với chúng ta vì nó có vẻ không thực. Nhưng thực ra, cuộc đời này và các đời vị lai là một – không có sự phân chia giữa các cuộc đời . Tâm thì siêu vượt sinh, trụ, diệt. Đây là một tri kiến nền tảng và trọn vẹn.

Thứ hai, nếu chúng ta có thể nhận ra được tánh sáng tỏ của tâm trong trạng thái ngủ sâu thì chúng ta cũng sẽ có khả năng nhận ra được trạng thái bản nhiên sau khi chết, khi chúng ta chạm tới bản chất nền tảng của tâm. Nếu con nhận ra được vào thời điểm đó thì con sẽ đạt giác ngộ trong Pháp thân và khi đó con sẽ không cần thêm chỉ dẫn nào nữa. Vì vậy khi con đạt giác ngộ trong Pháp thân thì con sẽ tự nhiên hoá hiện Hoá thân và Báo thân Phật để làm lợi lạc cho chúng hữu tình. Đây chính là trạng thái Phật tánh. Vì vậy khi nói “hư không bên ngoài và tâm bên trong làm một” thì bản văn đang muốn nói đến bản chất bất nhị của tâm: không có người thiền định và cũng không có đối tượng thiền định.

Có nhiều người không thể kết nối được với các giáo huấn trên. Đối với những người này thì sẽ có chỉ dẫn khác, một pháp tu gọi là thực hành chuyển di tâm thức qua ba nhận thức. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải trưởng dưỡng niềm tin nơi Tam Bảo và đức Phật A-Di-Đà. Vì thế nhận thức thứ nhất chính là coi rằng Phật A-Di-Đà và cõi Tịnh Độ Cực Lạc chính là đích đến, nhớ nghĩ đến phẩm tánh của đích đến đó và về đau khổ của thế gian này. Trong cõi Cực Lạc, hạnh phúc đến mà không cần dụng công nhờ năng lực của Bồ Đề Tâm. Hạnh phúc cõi đó không giống như hạnh phúc chúng ta trải nghiệm trong thế giới này. Là con người, chúng ta trải nghiệm được hạnh phúc ở một mức độ nào đó nhưng nó không bao giờ đến mà không phải nỗ lực. Đầu tiên con cần có mong nguyện đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Nhận thức thứ hai tức là coi kinh mạch trung ương của con giống như con đường để di chuyển. Thân thể của chúng ta có tám cửa bất tịnh và chỉ có duy nhất một cửa thanh tịnh để tâm thức thoát ra vào thời điểm chết. Nếu thần thức thoát ra qua một trong tám cửa bất tịnh thì người đó sẽ đi đầu thai vào một trong sáu cõi luân hồi. Chính vì thế khi nhận giới Quy Y, chúng ta có một món tóc được cắt ở trên đỉnh đầu. Điều này mang đến cơ duyên quý báu để mở ra cánh cửa cho kinh mạch trung ương chạy thẳng và mở ra ở trên đỉnh đầu. Nó mở ra con đường dẫn đến giải thoát. Vì thế kinh mạch trung ương được xem như là kinh mạch trí huệ, nó kết nối với Chư Phật. Nhận thức thứ ba là coi tâm thức chính là nhà du hành, nhà du hành sẽ đi tiếp chứ không ở lại cuộc đời này. Vì vậy việc bám luyến vào cuộc đời này không mang lại lợi ích. Con nên nghĩ rằng “Mình muốn đi đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc hơn là ở lại đây.” Cũng giống như khi con ở một nước nghèo và muốn đi đến một nước khác để nương náu. Vì có nhiều Đạo Sư thuộc các dòng truyền thừa khác nhau nên có nhiều hệ thống giáo huấn Phowa khác nhau, giáo huấn được mở rộng và chi tiết thêm. Nhưng nói tóm lại, con nên quán tưởng Phật A-Di-Đà ở trên đỉnh đầu con và quán tưởng thần thức của con di chuyển trong kinh mạch trung ương lên tới đỉnh đầu. Năng lực để thực sự giúp cho thần thức dịch chuyển [lên đỉnh đầu] chính là tín tâm và ước nguyện của con – ước nguyện đi tới cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Vì vậy điều quan trọng là cần trưởng dưỡng tín tâm và tin tưởng nơi Phật A-Di-Đà , ước nguyện đi đến cõi Cực Lạc. Đức Phật A-Di-Đà rất oai lực và việc tái sinh ở cõi Cực Lạc của Ngài thì dễ dàng hơn việc tái sinh trong các cõi Tịnh Độ khác.

Do đại nguyện của Phật A-Di-Đà nên thông qua việc thực hành Phowa con có thể được tái sinh trong cõi Cực Lạc. Tuy nhiên nếu con thực hành Pháp Phowa mà không có Bồ Đề Tâm thì con thiếu một trong những nguyên nhân để được tái sinh ở cõi Cực Lạc, bởi vì một trong những nguyên nhân để được tái sinh ở đó là Bồ Đề Tâm. Thực ra Bồ Đề Tâm tạo ra cõi Cực Lạc một cách rất tự nhiên. Vì thế nếu con chỉ quán tưởng kinh mạch và khí mà thiếu Bồ Đề Tâm thì liệu thần thức có thể thực sự được chuyển di đến cõi Cực Lạc hay không còn là dấu hỏi. Bồ Đề Tâm là vô cùng quan trọng giúp tái sinh về cõi Cực Lạc. Nếu con phát khởi Bồ Đề Tâm cộng thêm lòng sùng mộ nhất tâm với Đức Phật A-Di-Đà thì không còn nghi ngờ gì nữa, con sẽ được tái sinh về cõi Cực Lạc. Điều quan trọng là cần phát khởi ước nguyện tái sinh về cõi Cực Lạc để làm lợi lạc cho chúng sinh. Hãy nhớ rằng những chúng sinh với tâm sân hận thì cùng nhau tạo ra cõi địa ngục. Trong các cõi địa ngục, tất cả những chúng sinh có tâm sân hận cùng nhau đến đó. Hay tất cả những chúng sinh với tâm bỏn xẻn và tham lam cùng nhau đến cõi ngạ quỷ. Thí dụ có một gia đình với hai đứa con. Một người con có thể trở nên giàu có, có giáo dục và có địa vị, trong khi người kia có thể gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Tất cả mọi thứ đều tuân theo luật nhân quả. Nói tóm lại sự vận hành của luật nhân quả cũng do bởi tâm: hoặc đó là một tâm thức vị tha hoặc đó là một tâm thức vị kỷ, ô nhiễm.

Trong Phật giáo có hai thừa. Thừa thứ nhất gọi là “thừa nhân” (thừa có đặc tính của “nhân”) còn gọi là Kinh thừa. Căn bản trong giáo huấn thừa nhân dạy rằng chúng ta phải lưu ý cẩn thận đến nghiệp, nhân và quả. Nếu con thật sự tin tưởng vào luật nhân quả và theo đó mà thận trọng trong hành động, thì rồi con sẽ có thể hiểu được sự trân quý của tình yêu thương. Việc trưởng dưỡng tình yêu thương sẽ dẫn đến một kết quả tối hậu là con sẽ nhận ra được sự thật tuyệt đối hay Chân Đế – đó là hiểu được rằng không có cái tôi. Chính lòng bi mẫn đã giúp con giác ngộ được vô ngã. Khi không còn bản ngã thì sẽ không còn nguyên nhân. Nếu nhân là rỗng không thì quả cũng sẽ là rỗng không. Trạng thái giác ngộ siêu vượt mọi nguyên nhân bởi vì không còn sự nhị nguyên. Trong thực tại tối hậu chỉ có tánh giác bất nhị mà thôi.

Dòng thứ năm của đoạn kệ trung ấm cận tử nói về sự không luyến ái thân thể: “Khi rời bỏ tấm thân giả hợp gồm thịt và máu này, con sẽ hiểu rằng thân đó là một huyễn hoá phù du”. Khi học Pháp chúng ta được học về thân người quý hiếm khó gặp. Nhưng sau đó chúng ta cũng suy ngẫm về cái chết và lẽ vô thường để giúp tránh bám chấp vào thân thể. Trong thực hành này, chúng ta suy ngẫm về thân thể mà bởi vì nó mà chúng ta đã phải chịu nhiều bệnh tật và khổ não. Tâm thì không bao giờ bệnh tật hay đau đớn. Vì thế chúng ta suy ngẫm về sự bất tịnh của thân, ví dụ thân bao gồm nhiều thứ bất tịnh và đó chính là cơ sở cho mọi khổ đau. Thông qua thực hành này chúng ta có thể tách rời thân và tâm. Một số người coi việc quán tưởng Phowa, ví dụ quán tưởng các kinh mạch v.v. là rất quan trọng. Họ nghĩ rằng mọi thứ phụ thuộc vào việc quán tưởng đó. Họ quán tưởng các kinh mạch một cách rõ ràng, thúc ép cho khí di chuyển lên phía trên và hô to “phet”.Có thể họ tin rằng nếu họ hô to hơn và thúc ép khí mạnh hơn thì tâm thức sẽ chuyển động lên phía trên dễ dàng hơn. Ở đây điều quan trọng cần hiểu là có hai loại khí. Có loại khí thô, ví dụ hơi thở; và có loại khí tâm tinh tế hơn bao gồm cả năng lượng sống hay sinh lực. Khi con phát khởi Bồ Đề Tâm và chứng ngộ bản tánh của tâm thì khi đó khí tâm sẽ chuyển hoá thành khí trí huệ. Tâm di chuyển đi đâu thì khí tinh tế bao gồm cả sinh lực sẽ đi theo đó. Khí thô – tức là hơi thở của chúng ta – chỉ là phương tiện hỗ trợ. Thực sự thì tâm thức sẽ di chuyển thông qua năng lực của quán tưởng, lòng sùng mộ và tín tâm. Nếu con chỉ hô to “phet” và ép cho khí bắn lên phía trên, tức là chỉ thuần có nén ép hơi thở của mình, thì việc thực hành đó sẽ kém hiệu quả và có thể gây nên đủ loại vấn đề cho cơ thể (ví dụ như khí đi vào não v.v.) Vì thế chúng ta phải cẩn thận với những loại khí thô đó.

Hãy nhớ rằng khí tinh tế di chuyển lên phía trên chủ yếu là do lòng sùng mộ và tín tâm. Một lòng nhớ nghĩ về Phật A-Di-Đà sẽ làm cho tâm di chuyển lên phía trên và tâm đi đến nơi nào thì khí đi theo đến đó. Các dấu hiệu của việc thực hành tốt có thể xuất hiện như đau đầu v.v. Có những phương pháp khác nhau để mở ra cánh cửa của kinh mạch trung ương. Thậm chí nếu con không thực hành quán tưởng mạnh mẽ thì con nên luôn luôn chú tâm tại rốn. Sau khi thở vào, giữ khí tại rốn một lát và nghĩ rằng một ống màu xanh lá cây mảnh như cây kim di chuyển trong kinh mạch trung ương và kéo dài ra từ rốn lên đến đỉnh đầu. Hãy nghĩ rằng ồng đó xuyên qua đỉnh đầu và mở ra ở đó.

Nói tóm lại vào lúc chết – vào giai đoạn tan rã – sẽ có các linh ảnh khác nhau xuất hiện bởi vì đó là quá trình tan rã. Sẽ có linh ảnh trắng, đỏ và đen. Những linh ảnh này cũng xuất hiện trước khi chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu, sau khi chúng ta mơ. Tuy nhiên vào lúc chết thì những linh ảnh này xuất hiện trong khoảng thời gian dài hơn. Khi linh ảnh đen xuất hiện, thường chúng ta rơi vào trạng thái bất tỉnh, vào trạng thái ngủ sâu. Khi chết, chúng ta cũng rơi vào trạng thái bất tỉnh. Đó là khoảnh khắc thần thức tách khỏi hơi ấm và cuộc sống kết thúc. Chúng ta chết bởi vì thần thức tách khỏi năng lượng nhiệt. Sống có nghĩa là có hơi ấm hay nhiệt lượng. Khi thần thức tách khỏi hơi ấm thì chúng ta chết. Một người không thể chết đi nếu tâm người đó không tách khỏi sinh lực ấm. Khi một người tách khỏi sinh lực ấm thì người ấy tỉnh dậy trong trung ấm đầu tiên – trung ấm Pháp tánh (Bardo of Dharmata). Như Thầy đã nói ở trên, nó giống như trạng thái ngay trước khi chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu; khi đó con trực diện bản tâm, và điều đó diễn ra cho đến trước khi niệm tưởng tiếp theo xuất hiện. Tương tự như vậy, khi chết thì mọi thứ đều tan rã và chúng ta đến được bản tánh của tâm. Vào lúc đó sẽ có linh ảnh giống như bầu trời buổi sớm mai – không có mây, không mặt trời và mặt trăng – nó giống như bầu trời sáng sớm tinh khôi. Điều đó xuất hiện khi Pháp thân chân thực hiện ra. Nếu một người không thực hành trong khi còn sống thì người đó sẽ không thể nhận ra Pháp thân đó và ý niệm lại tiếp tục khởi hiện, bắt đầu bằng những ý niệm về “Tôi” và những câu hỏi như “Điều gì đã xảy đến với tôi?”. Những suy nghĩ như thế che chướng tâm và kéo theo sau là những tập khí tích tập từ vô thuỷ trong luân hồi. Và như thế tất cả những tập khí đó chỉ tồn tại trong “cái Tôi”. Một số người biết rằng họ đã chết, một số khác lại không nhận ra được ngay điều đó. Có một cuốn sách Pháp tên là “Giải thoát thông qua sự Nghe trong giai đoạn Trung Ấm” có giải thích toàn bộ quá trình đó. Có một cuốn sách Pháp khác một giảng luận do Sogyal Rinpoche viết mà Thầy đã đọc, gọi là “Bản văn Tây Tạng về sự sống và cái chết”. Đó là một diễn giảng hết sức rõ ràng, một quyển sách vĩ đại. Sau giai đoạn tan rã thì chúng ta diện kiến chân tâm: đó chính là Phật tánh, chính là vị Phật thực sự. Nếu nghiệp của chúng ta bất tịnh thì năm loại cảm xúc ô nhiễm lại tiếp tục xuất hiện. Thực chất thì năm loại cảm xúc ô nhiễm đó chính là năm trí huệ.

Nếu không nhận ra mình đang ở đâu thì khi ấy ta sẽ đi vào trung ấm tiếp theo – Trung ấm tái sinh. Vào giai đoạn này nhiều vị Phật sẽ xuất hiện, ví dụ như Ngũ Bộ Phật. Mỗi ngày lại có một vị Phật khác nhau xuất hiện, thực chất thì các vị chính là hào quang phản chiếu tự nhiên của năm trí huệ. Có ba loại chúng sinh không đi qua giai đoạn trung ấm tái sinh. Thứ nhất là những ai đã đạt giác ngộ trong Pháp thân, đối với họ thì các Bổn Tôn an bình và phẫn nỗ không xuất hiện. Thứ hai là những người vô cùng tội lỗi, những người này sẽ đi xuống ba cõi thấp ngay lập tức và những vị Bổn Tôn trong giai đoạn trung ấm – chính là những phản chiếu của tâm – sẽ không xuất hiện. Thứ ba là những người trải nghiệm một cái chết bất ngờ, chết phi thời. Trong trường hợp này thì thần thức trung ấm sẽ đi tiếp ngay lập tức. Tuy nhiên thường thì các Bổn Tôn an bình và phẫn nộ sẽ xuất hiện một cách tuần tự trong vòng một tuần. Đầu tiên các vị Bổn Tôn an bình xuất hiện. Điều này có liên hệ đến thực hành Đại Toàn Thiện (Dzogchen) có tên là thogal (vượt qua). Ở đây, chúng ta tu tập để nhận ra rằng mọi linh ảnh thật ra đều là phóng chiếu của chính tâm mình. Nhận ra được như vậy thì chúng ta sẽ có thể được giải thoát. Nếu không nhận ra được rằng những linh ảnh này là phóng chiếu của chính tâm mình thì chúng ta cũng sẽ không nhận ra được các vị Bổn Tôn an bình và vì thế sẽ không được giải thoát. Sau đó các vị Bổn Tôn phẫn nộ xuất hiện. Khi đó thì việc nhận ra các Ngài sẽ trở nên càng khó khăn hơn, vì thế sẽ càng khó để được giải thoát bởi vì hoảng sợ sẽ sinh khởi khi diện kiến những linh ảnh khủng khiếp của các Bổn tôn phẫn nộ. Khi chúng ta để tâm mình hoảng sợ thì cảm xúc ô nhiễm sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và những dấu hiệu của sự đầu thai kiếp tiếp theo sẽ xuất hiện. Nếu tiếp tục đi theo những linh ảnh này thì chúng ta lại sẽ đầu thai đâu đó trong luân hồi sinh tử.

Đức Garchen Triptrul Rinpoche

Phiên dịch Tạng – Anh: Ina Dhargye

Việt dịch: Trần Lan Anh

Hiệu đính: Thanh Liên